Săn Tìm Chú Ong Vò Vẽ CV-7

Săn Tìm Chú Ong Vò Vẽ CV-7

Năm 1942, một loạt ngư lôi đã nhấn chìm chiếc tàu sân bay Hoa Kỳ Wasp xuống đáy Thái Bình Dương. Trong nhiều thập kỷ, các gia đình nạn nhân vẫn mong đợi một tia hi vọng có thể tìm kiếm con tàu dưới đáy đại dương sâu thẳm. Đầu năm nay, một nhóm thợ săn xác tàu đã lên đường tìm kiếm.

Tác giả : Ed Caesar

Ngày 13/03/2019

Vào ngày 01 tháng 07 năm 1942, chiếc tàu sân bay Hoa Kỳ mang tên Wasp mang theo 71 máy bay, 2.247 thủy thủ và một nhà báo xuất phát từ San Diego đi đến phía tây Thái Bình Dương để tham gia cuộc chiến với Nhật Bản. Trên tàu có một sĩ quan hải quân tên là Trung úy John Joseph Shea. Hai ngày trước khi rời San Diego, Shea đã viết cho cậu con trai 5 tuổi của mình một lá thư.

Jackie yêu dấu,

Đây là bức thư đầu tiên cha viết cho con trai bé bỏng của cha và cha rất phấn khích khi biết con có thể tự đọc được. Nếu có từ nào con không đọc được, chắc là do cha viết không rõ ràng lắm. Cha tin mẹ có thể giúp con.

Cha đã rất sung sướng khi nghe tiếng con qua điện thoại đường dài. Cảm giác như cha đang được đứng cùng con tại phòng khách vậy. Nghe tiếng con, cha cảm nhận được con nhớ cha thật nhiều. Cha cũng nhớ con nhiều lắm, nhiều hơn tất thảy ai trên đời này. Thật đáng tiếc là chiến tranh không thể hoãn lại vài năm để cha kịp nhìn con lớn lên, cùng con làm mọi việc cho đến khi con đủ lớn để đến trường.

Cha tưởng tượng sẽ thật tuyệt nếu cha được trở về nhà sớm mỗi chiều và chơi bóng cùng con, đi leo núi và xem cây cối, cùng con tìm hiểu về đồ gỗ, săn bắn, câu cá, đi bơi và những việc tương tự vậy. Cha cho rằng chúng ta thật dũng cảm và gác lại những việc đó trong một khoảng thời gian nhé.

Khi con lớn hơn chút nữa, con sẽ hiểu vì sao cha không thường xuyên ở nhà. Con biết đấy, chúng ta là một đất nước lớn và chúng ta có lý tưởng là dân tộc phải được sống và tận hưởng sự giàu có cũng như làm thế nào mỗi người được sinh ra với quyền được sống bình đẳng, tự do và mưu cầu hạnh phúc. Nhưng thật không may mắn, có những quốc gia trên thế giới họ không có lý tưởng đó, nơi mà các cậu bé không thể lớn lên theo cách họ muốn, họ bị kìm hãm những cơ hội trở thành một người đàn ông tốt, chẳng hạn như một linh mục vĩ đại, chính khách, bác sĩ, quân nhân, doanh nhân, v.v.

Bởi vì có những dân tộc và quốc gia muốn thay đổi đất nước chúng ta, thay đổi lý tưởng, chính quyền và lối sống nên những người như cha phải rời bỏ gia đình để đi chiến đấu. Chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, lý tưởng, gia đình và niềm vinh dự cũng là nghĩa vụ mà cha phải thực hiện trước khi có thể trở về nhà yên bình với con và mẹ. Khi hoàn thành xong nghĩa vụ, cha sẽ trở về nhà cùng con và mẹ mãi mãi. Vì vậy, con hãy chờ cha thêm thời gian nữa. Cha có nói với con 2 tuần nhưng cha e rằng sẽ dài hơn thời gian đó.

Trong lúc này, con hãy chăm sóc mẹ. Hãy trở thành cậu bé ngoan và lớn lên thành một thanh niên tốt. Học hành chăm chỉ khi đến trường. Hãy là người thủ lĩnh trong mọi việc của cuộc sống. Là một con chiên ngoan đạo sẽ giúp con thành một người Mỹ tốt. Hãy luôn biết chơi đẹp và công bằng. Cố gắng để chiến thắng nhưng nếu con thua, hãy thua như một người đàn ông lịch lãm và một vận động viên thực thụ. Đừng bao giờ bỏ cuộc cho dù trong thể thao hay trong bất cứ công việc nào khi con lớn. Học bất cứ điều gì khi có thể. Hãy gần gũi mẹ và nghe lời mẹ nhé. Hãy luôn vâng lời mẹ, bất kể có khi con không đồng tình với mẹ. Mẹ sẽ biết điều gì tốt nhất cho con và không bao giờ làm con thất vọng hay dẫn con đi sai đường. Nếu như cha không quay về, con phải là người bảo vệ mẹ vì con là duy nhất đối với mẹ. Con phải lớn khôn và thay thế vị trí của cha trong cuộc sống và trái tim mẹ. Đừng để mẹ lãng phí cuộc đòi cho bất kỳ ai không xứng đáng với mẹ và con.

Con cũng phải yêu thương ông bà, những người cũng sẽ không bao giờ làm con thất vọng. Hãy yêu thương các cô của con và đến thăm họ thường xuyên khi con có thể. Và cuối cùng, mong con đừng quên cha. Hãy cầu nguyện cho cha có thể quay về và nếu Chúa không cho phép điều đó, con hãy trở thành một cậu bé ngoan và người đàn ông tốt như cha kỳ vọng nhé.

Cảm ơn con đã gửi cho cha những lời ngọt ngào và chiếc khăn tay, đặc biệt là những dòng thư và tấm thiệp của con. Hãy thường xuyên viết thư cho cha và kể cha nghe về mọi thứ nhé.

Hôn con và mẹ mỗi đêm.

Cha chào tạm biệt con Goodbye for now.

Với tất cả tình yêu và cầu nguyện cho mẹ và con,

Cha của con

Vào chiều ngày 15 tháng 9, tàu Wasp đang ở Biển San Hô, hộ tống một đoàn tàu của Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đi đến Guadalcanal, thuộc Quần đảo Solomon, nó bị trúng ngư lôi bắn tầm gần của tàu ngầm Nhật Bản. Vụ nổ ngay lập tức làm rung chuyển con tàu. Nhiều người lính đã chết ngay lập tức. Toàn bộ kho nhiên liệu của con tàu phát nổ như bom. Sàn treo, nơi cất giữ hầu hết các máy bay cũng hoàn toàn bốc cháy. Cùng lúc đó, nước biển tràn vào thân tàu, và chiếc Wasp chồm lên 15 độ về phía mạn phải của nó, giống như một võ sĩ oằn mình ở đầu gối sau khi bị bắn.

Sĩ quan chỉ huy của tàu Wasp, Đại úy Forrest P. Sherman, lái con tàu vòng quanh, để ngọn lửa và khói bay về phía đại dương thay vì xuyên qua boong tàu, nhưng không thay đổi được tình thế. Hơn 90 mét (300ft) trên con tàu, từ mũi tàu đến khu vực trung tâm, bao gồm phần cầu tàu, đã bị chìm trong hỏa ngục. Chỉ trong vài phút, Wasp đã rơi vào tình thế đối mặt với địa ngục.

Nửa giờ sau vụ nổ, Sherman nhận thấy tình hình trở nên vô vọng. Ông quyết định rời bỏ con tàu. Những người bị thương nặng nhất đã được đưa lên bè. Nhiều người sống sót khác chỉ còn cách là nhảy xuống vùng nước rực lửa xung quanh con tàu chỉ với phao cứu hộ, bám vào vật trôi dạt từ con tàu hoặc tấm nệm để giữ mình nổi trên mặt nước.

Năm giờ sau khi Wasp bị trúng đạn, chiếc tàu đã bị hư hại hoàn toàn nhưng vẫn trôi theo dòng nước. Chiếc tàu Lansdowne của Hải quân Hoa Kỳ được lệnh phải nhấn chìm tàu sân bay bằng một loạt ngư lôi. Tàu Wasp trượt xuống dưới bề mặt nước biển lúc 21h00 sau đó chìm xuống hơn hai dặm rưỡi xuống đáy đại dương, nơi mà cho đến ngày nay, nó trở thành khối sắt khổng lồ bao quanh bởi hàng dặm sa mạc, vĩnh viễn chìm dưới đáy đại dương sâu. Tổng cộng, 194 người trên tàu Wasp được coi là đã bị giết hoặc mất tích vào ngày 15 tháng 9 năm 1942. Một trong số họ là John Shea.

Ngày 02 tháng 01 năm nay, con tàu nghiên cứu mang tên Petrel khởi hành từ Honiara, đảo Guadalcanal đi tìm kiếm tàu Wasp. Để xác định vị trí con tàu đắm – cho dù là chiếc hàng không chiến hạm hơn 225 mét (741 ft) – điều cần thiết là cần xác định được điểm bắt đầu dò tìm. Đại dương thì mênh mông và công việc này giống như mò kim đáy bể. Trong Chiến tranh Thế giới thứ II, trước khi có vệ tinh, người ta phải định vị con tàu bằng kỹ thuật truyền thống. Đó là một công cụ điều hướng thiên thể – sử dụng đồ đo cự giác để xác định phương hướng căn cứ vào mặt trời và các vì sao – suy luận và tính toán vị trí thực tế dựa trên thời gian, tốc độ và điểm dừng. Đối với cách suy luận này, một tính toán sai lệch nhỏ trên khoảng cách lớn có thể dẫn đến lỗi nghiêm trọng trong việc xác định vị trí cuối cùng của con tàu. Người hoa tiêu phải được trang bị kỹ năng cực tốt trong trường hợp tàu cháy hoặc chìm. Do đó, các báo cáo trong trận hải chiến thời đó cho thấy vị trí cùng một con tàu có thể sai lệch đến hơn 20 hải lý.

Đại dương thì sâu thẳm thẳm. Phần lớn dưới đáy vùng biển San Hô, nơi con tàu Wasp chìm xuống, nằm trong khoảng 4.000 đến 6.000 mét, được coi là vùng vực thẳm : thế giới không chút ánh sáng với nhiệt độ cực lạnh, rất ít sinh vật biển sinh sống và áp lực khí quyển cao (Ở độ sâu dưới 6.000 mét cho đến đáy đại dương, trong các rãnh sâu nhất của đại dương, được gọi là vùng hadopelagic hay vùng rãnh ; nó thực sự là thế giới biển khơi tăm tối)

Thật sự khó để biết được độ sâu của vực thẳm này. Bạn có thể tưởng tượng nó tương đương 8 đến 12 ngọn tháp Tự Do xếp chồng lên nhau; hoặc cao hơn đỉnh cao nhất của ngọn núi Denali (là đỉnh núi cao nhất ở Bắc Mỹ có độ cao 6.190 mét (20.310 ft) trên mực nước biển). Tuy nhiên nói về khoảng cách dưới đại dương mà so với độ cao trên mặt đất thì quả thực khập khiễng, bởi không thể nhìn những tòa nhà trọc trời hay ngọn núi bằng mắt để so với đáy biển sâu đen hun hút trên cả ngàn mét. Khi tôi ở trên tàu Petrel, ý niệm rõ ràng và đáng ngại nhất trong tôi lúc đó là “thời gian chìm”. Khi đoàn thám hiểm thả một bộ phát đáp có trọng lượng hơn 27 kg (60 pound) từ boong tàu Petrel, mất đến hơn một giờ để chạm đáy.

Minh chứng cho việc không thể tiếp cận này là việc các nhà khoa học có thể nắm được bề mặt sao Hỏa một cách chi tiết hơn là bề mặt sâu thẳm dưới đại dương, nơi chiếm đến hơn 50% diện tích bề mặt trái đất. Một dự án toàn cầu mang tên Seabed 2030 mục tiêu tuyển dụng đủ lượng tàu để thực hiện khảo sát độ sâu đầy đủ của tất cả các đại dương thế giới trong vòng 11 năm – một nhiệm vụ đáng khen ngợi và cực kỳ tham vọng. Các đại dương bao phủ 140 triệu dặm vuông; và cho đến thời điểm hiện tại, mới chỉ chưa đến 10% đáy đại dương đã được lập bản đồ đầy đủ.

Petrel có lẽ là tàu tư nhân được trang bị tốt nhất và thành công nhất trên Thế giới trong việc tìm kiếm xác tàu chìm dưới nước sâu. Đây là loại tàu bảo dưỡng dầu khí Biển Bắc dài hơn 76 mét (250 ft), được mua vào năm 2016 và được nâng cấp thêm để săn xác tàu, đây là một con tàu kỳ lạ nhưng đẹp. Bạn sẽ bị ấn tượng trước tiên về chiều cao của tàu Petrel. Con tàu được điều khiển từ một cây cầu trên boong thứ bảy, cao hơn 12 mét (40 ft) so với mực nước biển, với các cửa sổ 360 độ tạo cảm giác như một tháp điều khiển máy bay, hoặc như một đài quan sát. Tài sản quý giá nhất của con tàu được đặt trong một số sàn tàu bên dưới cây cầu, bao gồm một phương tiện tự động dưới nước, hoặc còn gọi là A.U.V. : Một loại máy bay không người lái dưới nước trông giống như một ngư lôi màu vàng nhạt. A.U.V. sử dụng sóng âm phản xạ quét sườn để tìm kiếm những bất thường dưới đáy biển. Petrel cũng sở hữu một phương tiện hoạt động từ xa, hoặc còn gọi là R.O.V (viết tắt của Remotely Operated Vehicle – phương tiện hoạt động từ xa), một loại robot chìm với kích thước bốn tấn vuông trông giống như một chiếc xe nâng tương lai, được gắn đèn công suất lớn, máy ảnh độ nét cao cùng với cánh tay thủy lực và được kết nối với tàu Petrel bằng tời thủy lực dài 6.000 mét.

Sự tồn tại và thành công của con tàu Petrel gắn với tên tuổi của Paul Allen, một tỷ phú đồng sáng lập ra Microsoft với Bill Gates và ông đã qua đời vào tháng 10 ở tuổi 65, sau khi tái phát căn bệnh ung thư hạch lymphô Hodgkin. Đối với Allen, ông có niềm đam mê mãnh liệt với việc khám phá đại dương và lịch sử cuộc Thế chiến thứ II. Con thuyền bạch dương dài 126m (414 ft) của ông được trang bị một cách xa hoa, mang tên Octopus, có tàu ngầm riêng và thiết bị R.O.V. mà ông đã sử dụng để thám hiểm dưới biển. Tuy nhiên, sau một vài thành công đáng chú ý, trong đó có sự kiện tìm ra xác tàu chiến lớn nhất mang tên Musashi của Nhật Bản vào năm 2015, Allen đã quyết định muốn sở hữu một con tàu nghiên cứu riêng, để có thể hoạt động bất cứ lúc nào, khi ông muốn sử dụng Octopus cho Liên hoan phim Cannes hoặc đón năm mới ở St. Barts. Allen đã mua Petrel, chi tiền cho việc nâng cấp nó, trả lương cho thủy thủ đoàn của mình và cung cấp các công cụ khảo sát dưới nước hiếm có và đắt tiền. Khoản đầu tư đã được đền đáp xứng đáng : Trong hai năm kể từ khi trở thành thợ săn xác tàu chuyên dụng, con tàu Petrel đã nổi tiếng trong hàng các con tàu ở Hoa Kỳ, trong đó có việc tìm ra chiếc Lexington và Juneau là những tàu chiến khét tiếng mọi thời đại của Mỹ, chiếc Indianapolis đã bị chìm năm 1945, một sự mất mát to lớn lúc bấy giờ.

Bản thân chiếc tàu có giá trị 15 triệu đô la Mỹ; các thiết bị A.U.V. và R.O.V. có mức giá khoảng 5 triệu đô la Mỹ mỗi cái; đội ngũ thủy thủ được trang bị kỹ năng cao và dễ dàng nhận được các hợp đồng thuê trong lĩnh vực dầu khí hoặc bất cứ lĩnh vực nào. Để chứa đầy bình nhiên liệu của tàu Petrel tốn khoảng 650 ngàn đô la Mỹ. Chi phí thuê tàu Petrel với trang bị đầu đủ đội thủy thủ và thiết bị, như Hải quân Hoa Kỳ đã thuê khi máy bay Mỹ bị thất lạc trên biển, vào khoảng 80 ngàn đô la Mỹ mỗi ngày. Nhưng ít nhất với Allen, chi phí đó là không đáng kể. Năm 2010, ông cam kết sẽ cho đi hơn một nửa tài sản của mình. Điều đó đã chứng minh rằng : Số tiền đầu tư của ông tăng nhanh hơn mức ông có thể chi tiêu. Allen đã mua siêu du thuyền, bất động sản và các đội thể thao mà hầu như không bị hao tổn nhiều đến hầu bao. Ông sưu tầm các máy bay cổ điển, đàn ghi-ta và xe hơi. Ông đã ném tiền vào những bữa tiệc hóa trang xa xỉ. Ông cũng có bắt đầu đầu tư vào các chương trình quy mô nhỏ hơn. Ông đã rút hầu bao 2 tỉ đô la Mỹ cho các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, khoa học và nghệ thuật, và được xuất hiện trong danh sách 50 người tốt bụng nhất nước Mỹ trong vòng 17 năm trên Tạp chí từ thiện mang tên Chronicle of Philanthropy. Mặc dù vậy, giá trị tài sản của ông khi chết (20 tỷ đô la Mỹ) vẫn lớn hơn năm 2010 (13,5 tỷ đô la Mỹ). (Lý lịch kinh doanh và lợi ích từ việc từ thiện của ông – bao gồm cả con tàu Petrel – hiện đang được quản lý bởi chị ông, bà Jody, và bộ máy quản lý cấp cao của công ty Vulcan.

Khi con tàu Petrel khởi hành từ Honiara, trên tàu có 37 người, bao gồm tôi và một nhiếp ảnh gia cho tạp chí. Hầu hết thuyền viên đều có chuyên môn hàng hải nên được giao sứ mệnh điều khiển con tàu chạy một cách an toàn và suôn sẻ. Một nhóm thám hiểm khác, bao gồm 10 kỹ sư và lập trình viên chuyên nghiệp của Mỹ và Anh được giao đặc nhiệm làm việc dưới biển. Nhóm này có tên là A.T.U, tên tiếng Anh là “All things underwater”, tạm dịch nghĩa là mọi thứ dưới nước. Người dẫn đầu đoàn thám hiểm là Robert Kraft, một cựu phi công quân sự và dân sự của quân đội, người được xem như “Hollywood Rob.”

Kraft dự định sẽ mất 15 ngày để tìm kiếm con tàu Wasp, sau đó tàu Petrel sẽ phải thay đổi lộ trình để tìm chiếc tàu Mỹ khác bị chìm. Theo lý thuyết như vậy là có khá nhiều thời gian cho việc tìm kiếm. Chiếc A.U.V đã mất 18 giờ tìm kiếm trên một khu vực sàn đáy biển với diện tích khoảng 40 dặm vuông. Nếu thiết bị không mang lại manh mối, có thể lập trình lại và khởi động lại đầu dò trong vài giờ. (Nói một cách đơn giản, A.U.V. có thể hoàn thành một nhiệm vụ mới cứ sau 20 đến 22 giờ.) Với tính toán đó, đoàn thám hiểm có thể chỉ cần khoảng thời gian ít hơn 3 ngày để có 15 cơ hội tìm thấy xác tàu. Nhưng thám hiểm dưới đáy biển sâu hiếm khi suôn sẻ được. Người ta luôn phải mất thời gian cho việc sửa chữa, cân chỉnh thiết bị, phụ thuộc thời tiết xấu và những trì hoãn không dự tính trước được. Có vẻ như tàu Petrel sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong cuộc tìm kiếm tàu Wasp. Giống như trò chơi tàu chiến, Kraft phải hết sức thận trọng trong từng cú bắn của mình.

Người dẫn đường của Wasp là một sĩ quan 38 tuổi tên là Trung úy John F. Greenslade. Khi những người quan sát phát hiện ra ngư lôi Nhật Bản tiến về phía tàu Wasp, Greenslade đang ở trong nhà xem biểu đồ với tấm bản đồ trải rộng trước mặt. Ông ta nghe thấy tiếng hét của Tor Torpedoes trên mạn phải và ngay lập tức đi ra ngoài, nhìn thấy hai người họ biến mất khỏi tầm mắt và lao vào mạn sườn của tàu Wasp, ngay trước chỗ ông đứng.

Cú nổ đã buộc Greenslade trở lại bên trong nhà xem biểu đồ. Văn phòng gọn gàng trước đây của ông đã trở thành một mớ hỗn loạn. Greenslade thu dọn bản đồ của mình và chạy về phía cây cầu cùng với một số sĩ quan khác. Các mảnh vỡ từ vụ nổ đập vào cửa sổ và các phần phía trên tàu. Chỉ trong vài phút, Greenslade và các sĩ quan của mình đã sơ tán cây cầu – lúc này đang nóng rang – và di chuyển ra phía sau con tàu. Họ chỉ còn đủ thời gian để làm điều đó. Cấu trúc cây cầu đã ngay lập tức bị phá hủy hoàn toàn bởi một cú nổ lớn. Cả kho tạp chí và kho chứa hơn 900 kg bom (2000lb) đặt ngày dưới khu trung tâm con tàu. Rõ ràng, một trong hai kho này đã phát nổ.

Chuyện gì xảy ra cho Greenslade vài giờ sau đó là rất khó xâu chuỗi lại. Trong báo cáo chính thức sau đó, ông ta không thuật lại làm sao thoát ra được đống hỗn loạn đó mà chỉ ghi lại việc ông ta được tàu Lansdowne cứu thoát. Nhưng Sherman, sĩ quan chỉ huy trên tàu Wasp, đã đề cập đến việc Greenslade đã giúp những người đàn ông bị thương và bất lực vào bè cứu sinh trước khi từ bỏ tàu. Từ các báo cáo đó, có thể tóm lược lại rằng – giống như các sĩ quan cấp cao trên tàu Wasp, trong đó có Sherman, Greenslade đã tự bơi. (Thật sự theo lời kể của cháu trai của Greenslade, ông ấy đã mất hàng giờ trên biển không có phao, đã trao sự sống của mình cho một thủy thủ bơi không giỏi). Khi Greenslade được tàu Lansdowne cứu, ông ta cảm thấy như chính mình đã làm đắm chiếc tàu Wasp. Chắc hẳn Greenslade đã cất giữ những tấm biểu đồ của mình đâu đó không bị thấm nước, bởi những báo cáo sau đó của ông định vị chính xác vị trí con tàu bị đánh chìm.

Trên con tàu Petrel, trong suốt buổi chiều đầu tiên nhận nhiệm vụ, Kraft đã rất quan ngại về độ tin cậy của các vị trí mà Greenslade đã định vị. Ông vẫn cần người cố vấn. Phó chỉ huy của A.T.U là một người đàn ông gắt gỏng đến từ California tên là Paul Mayer, cạo trọc mái tóc bạc và được đồng nghiệp gọi với cái tên là “Pops”. Mayer có một kinh nghiệm về lặn và tàu lặn thương mại, nhưng ông cũng đã trở thành nhà nghiên cứu lịch sử của A.T.U. Khi trở về đất liền, ông dành nhiều tuần trong Kho lưu trữ quốc gia ở College Park, Md., tìm các hồ sơ hải quân để xác định vị trí có khả năng nhất là một mục tiêu khả thi của vụ chìm. Sau đó Mayer vẽ các vị trí khác nhau được ghi trong hồ sơ chính thức lên bản đồ Google Earth. Trên tàu Petrel, Mayer và Kraft lùng sục dữ liệu và tài liệu gốc trong các cuộc họp được cả hai người gọi là Câu lạc bộ Viễn thám.

Khi tàu Petrel đi về phía đông từ Honiara, dọc theo một đoạn mang tên “Iron bottom Sound” (tên được các thủy thủ Đồng minh đặt cho dải nước ở cuối phía nam của The Slot giữa Guadalcanal, Đảo Savo và Đảo Florida của Quần đảo Solomon, bởi vì hàng chục tàu và máy bay đã chìm ở đó trong Trận Guadalcanal năm 1942) để tập trung các vụ đắm tàu trong Thế chiến II ở vùng nước tương đối nông, Câu lạc bộ Viễn thám đã triệu tập trong văn phòng không cửa sổ của Kraft trên boong thứ hai. Kraft và Mayer đã thảo luận về các diễn biến phức tạp cuối cùng của Wasp. Khi nó bị tấn công, vào khoảng vị trí 1445, Wasp đang di chuyển về phía Đông Nam. Sau đó, nó đã bị bỏ rơi trong khoảng vị trí từ 1520 đến 1600. Kể từ thời điểm đó, chiếc Wasp được xem như một con tàu đã chết, trôi nổi mà không có điện. Câu lạc bộ Viễn thám tin rằng điều đó đã đẩy Wasp vào tình trạng hấp hối về phía tây và tây bắc, với tốc độ chỉ hơn một hải lý, trong khoảng bốn giờ. Sau đó bị các ngư lôi Lansdowne đánh đắm, cuối cùng chiếc Wasp đã bị chìm.

(Mayer và Kraft đã giả định rằng tàu chìm thẳng xuống, với rất ít sự thay đổi trạng thái lúc đó. Sau khi tôi rời Petrel, tôi đã hỏi một giảng viên về công nghệ tàu tại Đại học Hải quân Hoàng gia Britannia về câu hỏi này, ít nhất – một con tàu có thể hoạt động giống như một chiếc máy bay, đặc biệt là khi tăng tốc và có thể di chuyển một khoảng cách đáng kể khỏi phương thẳng đứng khi chìm. Nhưng ông cũng cho biết quá trình này phức tạp, đa chiều và dựa trên rất nhiều yếu tố tiềm ẩn, bao gồm các túi khí, độ nổi và tính chất bất đối xứng của thiệt hại khiến con tàu bị chìm. Nói cách khác, ngay cả khi bạn biết được điểm chìm của tàu dưới nước, nó sẽ không thay đổi nhiều cho đến khi bạn tìm kiếm một xác tàu.)

Bên cạnh giả định của Greenslade, rất nhiều tàu Mỹ lân cận đã đoán vị trí cuối cùng của tàu Wasp là vị trí 21 giờ. Những điểm dữ liệu kéo dài khoảng 25 dặm. Câu hỏi đặt ra là : chúng ta có thể tin tưởng ai? Kraft đã hoài nghi về giả định của Greenslade, nhất là vì hoa tiêu riêng của Lansdowne đã đánh dấu bản đồ của mình 17 dặm về phía nam của điểm được Greenslade lưu ý. “Bạn nghĩ đi”, Kraft nói, “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, chắc hẳn ông ta phải có trò chuyện với hoa tiêu trên tàu Lansdowne”

Trong CLB Viễn Thám, thường có những khoảng lặng kéo dài, đó là lúc như vậy. Cả hai người ngồi gác chân lên bàn, tay đung đưa, cố gắng tưởng tượng tâm trí của một người hoa tiêu trong Thế chiến II, trong một buổi chiều tối, đã chứng kiến bạn bè chết, nhìn thấy con tàu của mình bị phá hủy, bị cá mập cắn và vẫn có thời gian để ghi lại kinh độ và vĩ độ cuối cùng của tàu Wasp.

Cuối cùng, Mayer lên tiếng. Ông ta đang suy nghĩ về việc có bao nhiêu điểm dữ liệu khác dường như gần như khớp với Greenslade, và cách duy nhất khác biệt trên bản đồ Google Earth là vị trí được ghi lại bởi hoa tiêu của Lansdowne. “Không thể nào nó ở dưới đó”, ông nói, gõ ngón tay vào điểm đó, ở cuối phía nam của bản đồ, nơi người hoa tiêu Lansdowne cho rằng nói chiếc Wasp bị chìm.

“Trước đây, tôi đã nghe anh nói điều đó”. Kraft nói. Cả hai người cùng cười lớn.
Tàu Petrel đã mời một vị khách đặc biệt cho nhiệm vụ này: một đô đốc hai sao đã nghỉ hưu có tên là Sam Cox, người hiện đang lãnh đạo Bộ Tư lệnh Di sản và Lịch sử Hải quân ở Washington. Cox quan tâm đến việc lập danh mục và bảo quản xác tàu Hải quân Hoa Kỳ, một số trong đó – ít nhất là ở vùng nước nông hơn – có nguy cơ bị thiệt hại bởi thợ săn tiền thưởng, hoặc được các công ty trục vớt, theo đuổi các nguồn cung cấp kim loại lớn. (Cox nói với tôi rằng các xác tàu chiến của Hoa Kỳ là tương đương với Hải quân của Nghĩa trang Quốc gia Arlington và nên cũng cần được tôn trọng như thế.) Nhưng ông cũng là một cuốn bách khoa toàn thư về lịch sử hải quân và là một trợ giúp riêng biệt trong việc giải thích các tài liệu gốc được tàu Petrel sử dụng để tìm tàu bị mất tích.

Tại một buổi họp của CLB Viễn thám, Cox đã ghé vào văn phòng của Kraft và Mayer đã hỏi ông vị trí nào ông thấy tin tưởng hơn : theo vị trí của Wasp hay Lansdowne?
“Ồ tôi nghĩ nên tin vào hoa tiêu của tàu sân bay hơn là hoa tiêu của tàu phá hủy, vì họ có kinh nghiệm hơn.” Cox nói.

Ngay sau đó, quyết định được đưa ra. Kraft đặt chấm vàng tại điểm ông muốn A.U.V bắt đầu nhiệm vụ đầu tiên, gần điểm Greenslade xác định. Tàu Petrel vừa khuất khỏi đất liền, và vẫn còn hơn một ngày đi xa khỏi biểu tượng màu vàng trên bản đồ Trái đất của Google.

Khoảng hơn 10 giờ tối ngày 03 tháng 01, chúng tôi có mặt ở hiện trường và thiết bị A.U.V được sẵn sàng cho nhiệm vụ đầu tiên. Tàu Petrel được sóng biển đẩy nhô lên khoảng 3 mét. Đại dương tối đen như mực. Vài con mực tươi hồng nhảy lên gần mặt tàu trong vùng ánh sáng chiếu qua rồi rơi xuống nước. Cá ngừ khổng lồ quẫy bơi ra phía đuôi tàu.

Kraft nhìn trên boong phía sau khi thiết bị dò tìm màu vàng nhạt được lăn ra khỏi giá treo. Ánh sáng trắng lóe lên từ cạnh sườn trên của nó. Một thành viên trong nhóm A.T.U.- một người Anh vui tính, đầu trọc có tên Scott Matthews – đã vận hành một cần cẩu cố định vào phía cổng của boong, nâng thiết bị lên và thả xuống nước. A.U.V. được thiết kế để có thể nổi trên mặt nước. Nhằm tiết kiệm pin, phần mũi được thiết kế trọng lượng nặng hơn để nó dễ dàng lặn xuống. Ở độ sâu được lập trình sẵn, trong trường hợp này là 4.000 mét, A.U.V. được hướng dẫn để tách bớt trọng lượng, tại thời điểm đó, nó chạm vào chân vịt và xoắn vài trăm mét còn lại xuống đáy. Nếu thiết bị có vấn đề phải hủy bỏ vì bất cứ lý do gì, sự cố bất thường nào đó, nó cũng tự tách bớt trọng lượng để có thể tự nổi lên.

Nhóm nghiên cứu nhìn về phía cánh cửa khi thiết bị dò tìm màu vàng lặn xuống dưới con tàu, ánh sáng nhấp nháy ngày càng mờ nhạt, rồi biến mất. Tôi đã đọc báo cáo của Sherman về vụ chìm tàu Wasp vào ngày hôm đó. (“Ba chiếc ngư lôi được phát hiện ở gần tàu đang tiến đến”, thuyền trưởng viết. “Gần như ngay lập tức con tàu bị ba cú va chạm”. Nhìn chiếc A.U.V. lao xuống bên dưới thân của Petrel, tôi không thể làm được gì nhưng tôi có thể cảm nhận được sự hiện hữu của sự cố cách đây 76 năm trong chính vùng biển này.

Tuy nhiên lúc đó, đoàn thám hiểm lại có mối quan tâm cấp bách hơn. Trong phòng trực tuyến – trung tâm đầu não điều khiển A.T.U., được trang bị rất nhiều màn hình – một màn hình theo dõi A.U.V. cho thấy thiết bị đã được tách giảm trọng lượng và đang nổi lên mặt nước. Rất khó để xác định nguyên do của việc này, ngay cả với người có kinh nghiệm nhất về thiết bị A.T.U. Người ta chấp nhận có một số yếu tố – bao gồm chướng ngại vật mà thiết bị cảm ứng nhận được nhờ phát tín hiệu sonar hướng về phía trước của nó, hết pin hoặc trục trặc lập trình – có thể khiến thiết bị bị phá hủy. Một thành viên của A.T.U. nói với tôi rằng đừng cố gắng hiểu, bởi vì “nó giống như ma thuật vậy”. Ông ấy nói thêm: “Nếu đưa vật gì đó xuống độ sâu 4.000- 5.000 mét một vài lần, nó sẽ không bao giờ đi giống nhau được.”

Hai người trong đội được điều động xuống một chiếc xuồng hơi Zodiac để lấy thiết bị dò tìm đang lềnh bềnh, ánh sáng từ nó vẫn nhấp nháy trên mặt nước, cách tàu Petrel hơn 100 mét, trong một vùng biển nước dâng cao : một công việc đầy rủi ro, đặc biệt là vào ban đêm. Một khi thiết bị A.U.V. đã được gắn vào xuồng Zodiac bằng móc khóa và rồi được lôi về tàu Petrel, kéo lên boong và lập trình lại, nó được đưa xuống lần nữa, trước 11 giờ đêm. Lần này nó lại được thả xuống nước. Tôi trở về phòng ngủ. Vài giờ sau tôi thức dậy và được biết thiết bị A.U.V lại bị tự hủy. Cả đội phải làm việc suốt đêm để lập trình lại nó.

Giờ đây, Kraft phải đối mặt với một quyết định khó khăn khác. Thời tiết trở nên tồi tệ hơn, và nước biển dâng lên tận năm mét, biển khơi mênh mông. Lúc đó tôi cảm thấy chỉ muốn trốn trên giường trong cabin của tôi ở boong thứ sáu. Kraft có thể dễ dàng đưa A.U.V xuống nước trong điều kiện thời tiết này, tuy nhiên việc lấy lại bằng xuồng phao Zodiac có thể gây nguy hiểm cho đồng đội và cả thiết bị. Kraft ra lệnh trì hoãn mọi hoạt động cho đến khi biển lặng.

Cũng không lâu quá một ngày sau đó, chỉ một giờ sau bữa sáng ngày 05 tháng 01, thiết bị A.U.V lại được đưa xuống lần nữa. Vào thời điểm đó, tàu Petrel đã cách Honiara khoảng 300 hải lý về phía đông nam. Chúng tôi đã không nhìn thấy một con tàu khác suốt hai ngày. Khi chiếc Zodiac được phái đi để lấy thiết bị A.U.V. nổi lên, lúc đó là 1giờ 30 sáng hôm sau. Thời tiết ẩm và ngột ngạt. Những con chim biển bay qua tàu Petrel, cá bơi trên mặt nước và vài ba chú cá mập đại dương trắng lượn lờ gần chiếc xuồng phao Zodiac.

Thiết bị được đưa trở lại giá đỡ trên boong tàu, một sợi dây cắm vào cạnh sườn để lấy dữ liệu của nó – sẽ mất khoảng 25 phút cho việc này. Nhóm nghiên cứu đã tập trung trong phòng điều khiển trực tuyến để xem kết quả của chuyến lặn. Eric Brager – một chuyên gia A.U.V. khó tính đến từ New York – ông đã giải thích cho tôi về những hình ảnh sonar sẽ hiển thị trên màn hình. Nó là những đường sọc trông giống như cánh đồng lúa mì Kansas. Nếu đáy biển hoàn toàn bằng phẳng, hình ảnh sonar sẽ là không hiển thị được. Nếu có những ngọn đồi đá hoặc chướng ngại vật, ta sẽ thấy một cái bóng – được gọi là điểm dừng – đằng sau phần trồi lên của mặt đáy biển. Những gì đội nghiêm cứu đang tìm kiếm là những vật không thể giải thích được bởi địa chất. Trong trường hợp phát hiện một mảnh vụn, các dị thường sẽ trông giống như một tập hợp các đốm sáng. Trong trường hợp toàn bộ con tàu đắm còn nguyên vẹn, sonar sẽ cho thấy thứ trông giống như một con tàu đồ chơi, được thả trong hộp cát.

Kraft nhìn chăm chú vào màn hình khi có kết quả hiện lên. Hầu hết, hình ảnh sonar cho thấy một sa mạc phẳng, không bị gián đoạn. Nhưng, khi cuộn qua một dòng dữ liệu, một cái gì đó đã thu hút được con mắt của Kraft ở phần phía đông nam của hình ảnh: những vệt sáng bóng.
“Nó đây rồi!” Ông nói khẽ và rời khỏi ghế. “Mảnh vỡ ở đó.”

Trong vài phút tới, nhóm nghiên cứu sẽ xác định hai mảnh vỡ riêng biệt, cách nhau vài trăm thước. Lúc đó là 2 giờ sáng, Kraft có vẻ rất phấn khích. (“Đó là một xác tàu”, ông nói) Chắc chắn, các mảnh vỡ đó là manh mối đầy hứa hẹn. Các mảnh vỡ lớn nhất là trong vòng ba dặm về nơi Greenslade, hoa tiêu của tàu Wasp, xác định khi con tàu chìm xuống. Kraft yêu cầu nhóm của mình thực hiện một cuộc tìm kiếm mới, ở phía nam nơi có các mảnh vỡ. Rất có khả năng, ông cho rằng tàu Wasp sẽ ở đó, ngay cuối con đường có mảnh vụn.

Khi thiết bị A.U.V. đã được kéo ra khỏi nước sau nhiệm vụ tiếp theo, vào khoảng 2 giờ 30 chiều, phòng điều khiển trực tuyến đã kín người. Mayer và Kraft chăm chú nhìn màn hình. Luôn có một không khí căng thẳng khi chuẩn bị xuất dữ liệu sonar. Mayer nói với tôi rằng khoảnh khắc đó giống như mở quà vào sáng Giáng sinh : “Bạn đang chờ đợi để mở quà và xem bạn nhận được điều gì bất ngờ hay thứ gì đó bạn thực sự mong đợi không.”

Đúng là có bất ngờ thật. Thiết bị A.U.V. tìm thấy thêm một ít mảnh vỡ trong đợt dữ liệu mới, nhưng không phải là tàu. Mayer và Kraft đã dành một lúc để suy nghĩ về nơi sẽ tìm kiếm tiếp theo. Họ đã sử dụng hai trong số cú bắn chiến lược của họ rồi.

Đây là nhiệm vụ đầu tiên kể từ sau cái chết của Paul Allen, và đoàn thám hiểm cảm nhận được sự vắng bóng của ông. Trong các nhiệm vụ trước, Kraft đã gửi email cho ông chủ tỷ phú của mình ít nhất một lần mỗi ngày để cập nhật tình hình. Allen hiếm khi khen ngợi. Danh hiệu cao quý nhất mà Kraft có thể hy vọng nhận được từ ông chủ của mình là một bức thư điện tử có hai từ, viết hoa : “TUYỆT VỜI”. Nhưng không thể biết được Allen yêu quý con tàu Petrel đến mức nào. Ông ấy thích quan sát từ xa khi đội ngũ của ông lặn với thiết bị R.O.V. tại một địa bàn mới. “Không có gì đáng ngại cả”, một thành viên A.T.U. nói với tôi, nửa đùa nửa thật. “Chúng tôi làm trong ngành kinh doanh giải trí mà, việc này cũng giống như xem phim giải trí thôi.”

Vào tháng 8 năm 2017, khi thiết bị R.O.V. của tàu Petrel lặn xuống 5.500 mét dựa trên những gì thiết bị A.T.U. xác định là xác tàu Indianapolis, Allen đã theo dõi nguồn cấp dữ liệu từ một cơ quan tại CenturyLink Field, nơi đội bóng N.F.L. mà ông ta sở hữu, Seattle Seahawks, đã thâu tóm luôn Minnesota Vikings trong một mùa giải không thường niên. (Nguồn cấp dữ liệu trực tiếp khác được cung cấp cho người bạn của Allen là Steven Spielberg ở Los Angeles, một sự sắp xếp rõ rệt : Đó là bài phát biểu say sưa của Robert Shaw về hàng trăm thủy thủ người Mỹ từ Indianapolis bị cá mập hổ ăn thịt với đôi mắt vô hồn, đã gợi lại câu chuyện về người Indy trong tâm lý người Mỹ, như cơn ác mộng của những người hải quân.) Theo những người quen biết của Allen, mỗi lần tìm thấy một xác tàu đối với ông ta như một lần được đứng dưới ánh hào quang ở Quảng trường Thời đại vậy.

Tuy nhiên, tàu Petrel không chỉ là môn giải trí của Allen. Cha ông đã chiến đấu trong Thế chiến II, và ông quan tâm sâu sắc đến lịch sử của cuộc chiến tranh này. Theo ông, việc nghiên cứu, khám phá này là một cách để tôn vinh tất cả những người lính đã phục vụ đất nước của ông. Theo Đạo luật tàu quân sự Sunken, các xác tàu chiến Mỹ dưới đáy đại dương được chỉ định là lãnh thổ của Hoa Kỳ. Cox nói với tôi rằng Chi nhánh Khảo cổ học dưới nước của Hải quân duy trì một cơ sở dữ liệu về tất cả các địa điểm được biết đến và định vị chính xác nhất của tàu Hải quân Hoa Kỳ bị mất. Khi tìm thấy xác tàu, vị trí chính xác được thêm vào cơ sở dữ liệu đó nhưng không bao giờ được công khai – vì Hải quân không quan tâm đến việc khuyến khích thăm dò trên các địa bàn này. Tuy nhiên, Hải quân sẽ cố gắng liên lạc với các nhóm cựu chiến binh và những người sống sót tổ chức lên một con tàu, nhằm tìm thêm các tin tức để khám phá dựa trên những dữ liệu đó.

Hai ngày trôi qua. Đội nghiên cứu đã ngốn hết hàng núi thức ăn, ba bữa một ngày. Một vài người trong số họ ngồi câu cá trên boong phía sau khi hết ca. Thỉnh thoảng, nhưng không thường xuyên, họ đánh vào phòng “trim room” để tập thể dục. Thiết bị A.U.V. chỉ hoàn thành một nhiệm vụ thành công – về phía tây của vị trí đầu tiên – và trở lại không có gì ngoài những cánh đồng lúa mì. Một nhiệm vụ khác đã bị hủy bỏ. Bốn phát súng được bắn đi. Câu lạc bộ viễn thám gặp nhau thường xuyên hơn, bởi Kraft và Mayer đã cố gắng tìm hiểu sai lầm của họ trên lý thuyết. Tàu Wasp đang đi về phía đông nam; nó bị trúng ngư lôi của Nhật Bản; nó đã bị bỏ rơi; nó trôi nổi với phía tây-tây bắc lúc bấy giờ; nó đã bị Lansdowne đánh đắm; Nó chìm. Nhưng nếu tất cả những điều đó là đúng, thì thiết bị A.U.V. nên đã phải tìm thấy nó rồi. Họ đã bỏ lỡ những gì? Đó là một bí ẩn mãi mãi đối với Kraft và Mayer, họ cho rằng các sự kiện được ghi lại một cách trung thực trong nhật ký và các báo cáo chính thức có thể định hướng sai lệch. Sau lần tìm kiếm cuối cùng bằng sonar không có kết quả, Kraft đã ở trong phòng điều khiển trực tuyến, với đôi mắt dán chặt vào màn hình, khi ông nói, không riêng với ai cả, “Chiếc tàu Wasp rất khó để nắm bắt”. Tôi nghĩ, có một chút ngọt ngào trong lời nói đó.

Rồi lại đến trở ngại khác. Một thuyền viên trong đoàn bị ốm, đau bụng dữ dội. Không ai trên tàu muốn có bất kỳ rủi ro nào xảy ra; tàu Petrel phải quay trở lại Honiara, đến cảng gần nhất, để tìm kiếm sự trợ giúp y tế. Cuộc hành trình là 30 giờ cho một chiều tàu đi. Tạm gác lại việc tìm kiếm con tàu đắm. Tuy nhiên, tình hình lúc đó khá là vô vọng cho nhiệm vụ này. Trong trường hợp tốt nhất, thuyền viên đó được điều trị thành công và nhanh chóng, chúng tôi cũng đã mất bốn ngày của cuộc hành trình thám hiểm. Bốn phát súng chiến lược đã tung ra rồi.

Chỉ đến lúc nhiệm vụ dường như sắp thất bại – ít nhất, trong thời gian tôi còn ở trên tàu – tôi mới nhận ra mình đã thay đổi như thế nào khi được ở trên tàu Petrel trong cuộc tìm kiếm xác tàu Wasp. Đó không chỉ là cảm xúc khi kết thúc câu chuyện mà tôi đang kể, mà tôi chính là một phần trong đó. Bây giờ tôi đã đọc thêm về lịch sử của tàu Wasp, và bị cuốn hút bởi những câu chuyện và nhân vật của nó. Có David McCampbell, người sống sót sau vụ chìm tàu bằng cách nhảy xuống nước, và sau đó trở thành chiến binh át chủ bài của Hải quân thành công nhất trong toàn bộ cuộc chiến. Có Benedict Semmes Jr., người sau này trở thành phó đô đốc; Semmes nhìn thấy một con cá mập gần 2 mét rưỡi đang vây quanh nhóm người sống sót khi chúng bơi về phía tàu Hoa Kỳ Duncan nhưng ông quyết định không nói với ai, kẻo việc đó sẽ gây hoang mang. (Một quyết định sáng suốt: Con cá mập rời đi sau đó.) Có khả năng quan sát siêu nhiên của sĩ quan không quân của tàu Wasp, ông Michael Kernodle, người đã ở dưới nước khi nhìn lại tàu sân bay và nhận ra rằng ông ta có thể nhìn thấy ngả đường xuyên qua con tàu, từ bên này sang bên kia.

“Tôi không biết điều gì đã gây ra lỗ hổng lớn này, nhưng nó chắc chắn là kết quả của một vụ nổ khủng khiếp”, Kernodle có viết lại như vậy. Và sau đó là John Shea, và bức thư gửi con trai ông, khiến mắt tôi rưng rưng mỗi khi đọc nó. Các báo cáo về vụ chìm tàu Wasp đề cập đến Shea trong các điều tốt đẹp nhất. Là trợ lý không quân, ông ta sẽ ở một vị trí cao trên hòn đảo trung tâm được gọi là tháp bay chính khi ngư lôi tấn công, giám sát việc cất cánh và hạ cánh của máy bay trên tàu. Ngay khi vụ nổ bắt đầu, Shea lao xuống một cái thang và tiến về phía nguy hiểm, chộp lấy dụng cụ chữa cháy trên đường đi. Nguồn điện đã bị cắt khi bị ngư lôi tấn công, có nghĩa là không có áp lực nước trong các vòi; Shea đã làm tất cả những gì có thể với chất làm chậm hóa học. Ông ta được nhìn thấy lần cuối trên lối đi bộ dẫn ra một vòi khác khi một vụ nổ lớn, theo một nhân chứng, thổi tung lớp thép mạ hơn 45 mét (150 ft) phía trên boong tàu. “Một số người đàn ông bị thổi bay lên không trung”, người sĩ quan ấy đã viết, “và tôi không gặp lại họ nữa.”

Không phải là chủ nghĩa anh hùng Shea chinh phục tôi, càng tìm hiểu về anh ta, tôi càng bị cuốn hút. Shea là một người Công giáo Ai-len, cao, gầy, tóc đỏ, giọng nói nhỏ nhẹ đến từ Cambridge, Mass., và là một sĩ quan hải quân chuyên nghiệp, với thân hình của một vận động viên nhưng có phong thái của một nhà thơ. Tại trường đại học Boston, nơi ông là một học giả đại học xuất sắc, ông đã viết thơ, thi đấu trong nhóm tranh luận và chơi bóng đá Varsity. (Một phóng viên trên tàu Wasp đã viết rằng chiếc mũi tàn nhang của anh ấy đã “bị móp méo do cuộc đấu cá nhân.”) Sau khi học đại học, anh ấy đã chờ đợi nhiều năm để kết hôn với người yêu của mình, Elizabeth, vì cảm giác tồi tệ giữa gia đình và cô ấy. Con trai của John và Elizabeth, tên Jack, là đứa con duy nhất và là một phước lành muộn màng của ông.

Khi có tin Shea mất tích, được cho là đã chết, hai trong số bốn chị em của anh, cả hai đều là giáo viên trường công lập Boston, đều nhớ lá thư mà anh trai họ đã gửi cho con trai mình và đọc nó cho các lớp học của họ. Hệ thống trường học sau đó quyết định xuất bản nó trong một cuốn sách nhỏ. Ngay sau đó, bức thư đã gây chấn động cho cả quốc gia. Bức thư thân yêu của Jackie đã được in lại trên tờ báo “The Boston Globe”, họ gọi đó là một kỷ niệm truyền cảm hứng cho giới trẻ Mỹ. Tạp chí Life và nhiều tờ báo khác cũng đề cập thông tin này. Rất lâu trước khi Shea được tuyên bố chính thức là đã chết, vào ngày 16 tháng 9 năm 1943 – một năm và một ngày sau khi tàu Wasp bị đánh chìm – câu chuyện về bức thư gây hiệu ứng lớn hơn câu chuyện về chính con tàu Wasp.

Jack Shea qua đời vào năm 2015, ở tuổi 77, có ba người con và chín người cháu, đã có một sự nghiệp hạnh phúc là một giáo viên dạy tiếng Latin và Hy Lạp tại đại học Boston. Trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình, ông luôn bị dao động giữa niềm tự hào về di sản của cha mình và không hài lòng về sự chú ý kỳ lạ và không kiểm soát mà bức thư thân yêu của Jackie đã mang lại cho ông. Thỉnh thoảng, mọi người sẽ hỏi anh ấy về bức thư, và anh ấy sẽ trả lời các câu hỏi của họ một cách lịch sự nhất có thể, trước khi tiếp tục cuộc trò chuyện. Tuy nhiên, câu chuyện về tàu Wasp sẽ không bao giờ để ông ta yên thân. Đặc biệt là đến cuối đời, Jack Shea thường hoài nghi về những gì đã xảy ra với cha mình và chiếc tàu sân bay mà ông làm việc.

Tôi là cha của hai đứa trẻ – một cậu bé 6 tuổi mọt sách đã giấu một tờ giấy viết tay trong hành lý của tôi, nói rằng cậu ấy sẽ nhớ tôi đến mức nào khi tôi ở trên tàu. (“Cảm ơn … về tấm thiệp và những dòng chữ của con”, John Shea đã nói với Jackie như vậy. “Hãy viết thư cho cha thường xuyên và kể cha nghe về mọi thứ.”) Nhưng tôi cũng cảm thấy một mối liên hệ sâu sắc hơn với câu chuyện Shea. Khi tôi lên 2, cha tôi, một phi công đã dành phần lớn sự nghiệp của mình trong Hải quân Anh, đã thiệt mạng trong một tai nạn máy bay trực thăng. Ông qua đời ở tuổi 43. Shea đã 44 tuổi. Thật khó để tôi đọc bức thư thân yêu của Jackie nơi gửi gắm sự xúc động, dễ tổn thương và tình yêu của người đàn ông lớn tuổi và không thể không cảm nhận được mối liên kết ruột thịt trong đó.

Tất nhiên, tôi nhận ra rằng những câu chuyện về tàu Wasp vẫn tồn tại dù xác tàu được tìm thấy hay không. Nhưng những hiện vật như vậy bản thân nó có vẻ quan trọng, bởi vì nó có thể cho phép những câu chuyện kể này được đánh thức lại. Bất cứ ai quan tâm đến lịch sử của các trận chiến bộ binh trong Thế chiến I đều biết đến những cánh đồng Flanders và Picardy với những người lính trẻ đã chiến đấu trong hàng triệu người ở đó và đồng cảm với trải nghiệm của họ. Tôi đã làm như vậy với chính mình : Không có trung sĩ nào được tuyển dụng cho chủ nghĩa hòa bình tốt hơn là một chuyến đi vào Mặt trận phía Tây. Nhưng bề mặt của đại dương không có dấu vết của cột mốc nào. Để hiểu hoặc tưởng niệm kinh nghiệm của trận hải chiến, bạn phải lặn sâu.

Thuyền viên bị bệnh đã được điều trị nhanh chóng: Cơn đau của anh ta hóa ra không phải là căn bệnh nghiêm trọng. Chúng tôi trở lại địa bàn tìm kiếm nhanh nhất mà tàu Petrel có thể – tức là 12 hải lý/giờ, hoặc về tốc độ của những người chạy 10.000 mét nhanh nhất. Vào ngày 11 tháng 1, dữ liệu của thiết bị A.U.V. không cho thấy gì ngoài cánh đồng lúa mì. Vào ngày 12 tháng 1, nó lại xuất ra dữ liệu trống rỗng.

Trong cơ hội thứ hai này, đó là vào lúc 5 giờ sáng, khi thiết bị dò tìm được trục vớt và ba con cá mập đang vây quanh chiếc Zodiac. Một thành viên trẻ tuổi của A.T.U – một người Anh có râu rậm rạp tên là Pat Travis – đã chồm ra để quay thiết bị vào móc trên cần cẩu khi một con cá mập trắng đại dương dài gần 2 mét lướt qua giữa thuyền của anh ta và chiếc A.U.V. Nếu Travis muốn, anh ta có thể vuốt ve vây lưng cá mập khi nó bơi qua. Đó là một khoảnh khắc thực sự dựng tóc gáy, nhưng anh ấy đã nhanh chóng né ra được. Lúc bấy giờ họ gặp một vấn đề kỹ thuật cần giải quyết: thiết bị dò tìm bị để lại dưới nước.

Như đội A.T.U. khắc phục sự cố, Kraft đã biết trì hoãn một cách khôn ngoan. Anh cho thiết bị R.O.V. lặn xuống trên các mảnh vụn lớn mà họ đã tìm thấy trên khu vực đầu tiên vào một tuần trước đó. Anh vẫn hy vọng có thêm manh mối. Mayer trêu chọc anh ta, nói rằng robot sẽ tìm thấy một dấu vết nào đó “theo cách này chỉ 700 mét thôi mà thấy con tàu Wasp rồi”. Kraft được dịp cười lớn.

Các tàu ngầm điều khiển từ xa là một bộ phận rất quan trọng của thiết bị. Tàu Petrel chuyển 4.500 volt và 10 ampe điện theo dây cáp xuống cho thiết bị R.O.V., cũng như các hướng dẫn vận hành các bộ đẩy của nó. Con tàu mẹ nhận được những hình ảnh tinh thể từ chín máy ảnh phụ. Thông qua công nghệ kì diệu này, hai người điều khiển, giống như đang ngồi trên những chiếc ghế chơi game trong phòng điều khiển trực tuyến, đã khiến trên chiếc R.O.V. bay xuống đáy đại dương, khảo sát vực thẳm xung quanh một cách dễ dàng như thể họ đang nhìn qua tấm kính ở bể cá.

Khi điều khiển thiết bị lặn xuống khu vực mảnh vụn, những gì họ tìm thấy hết sức ma quái. Dưới đáy đại dương, trong đống lộn xộn với đầy lan can sắt và vỏ sò là hàng chục mũ bảo hiểm. Phát hiện này gây ra nhiều đau đầu hơn cho Kraft và Mayer. Dường như bất cứ điều gì họ tìm thấy là bằng chứng của một trong hai chấn thương lớn của Wasp, hai cuộc tấn công của Nhật Bản hoặc cú vô lê của Mỹ đã đánh đắm con tàu.

“Đây không phải là một vấn đề lớn, nhưng nó được trải rộng trên một khu vực rộng lớn, vì vậy dù bất cứ điều gì xảy ra, nó đã xảy ra với con tàu khi đang di chuyển nhanh”, ông Kraft nói.

Một giả thuyết mới lại bắt đầu hình thành trong tâm trí của Kraft, mà không thể diễn tả hết được cho đến khi anh ấy đã đưa thiết bị A.U.V. xuống một lần nữa và nhìn thấy nhiều dòng lúa mì hơn: Những mảnh vụn mà họ đã tìm thấy là từ tàu Wasp. Nếu ông ta nói đúng, tất cả các điểm dữ liệu đơn lẻ họ có trên bản đồ của họ là sai, ít nhất trong vòng 10 dặm. Nhưng Kraft không thể tìm được lời giải thích nào khác. Đội của ông đã khảo sát sáu vùng tìm kiếm trong khoảng 150 dặm vuông và vẫn chưa có kết quả. Các tọa độ chính xác được ghi lại bởi hàng chục các nhà hàng hải Hoa Kỳ đã không sử dụng được. Tất cả điều đó theo Kraft là vô giá trị.

Cox thì phân tích tính toán nhiều hơn. “Việc này không mang đến cho bạn toàn bộ sự tự tin của hàng hải Mỹ”, ông nói khi đón nhận nụ cười buồn bã từ những thành viên trong phòng điều khiển trực tuyến.

Dẫu sao Kraft cũng đang ở trên lưng cọp rồi. Nếu tọa độ sai và các mảnh vỡ không phải của tàu Wasp, rất có thể đó là hậu quả của cuộc tấn công ngư lôi vào hai tàu khác trong đoàn tàu. Tàu ngầm Nhật Bản trên thực tế đã bắn sáu quả ngư lôi trong cú vô lê khiến tàu Wasp bị thương nặng. Một chiếc đã vượt qua tàu Wasp tiếp tục đánh vào tàu Mỹ O’Brien, đến mức nó chìm một tháng sau đó. Một vụ tấn công khác ở Carolina Bắc Hoa Kỳ, buộc nó quay trở lại Trân Châu Cảng để sửa chữa. Cả hai đều là những sự kiện quan trọng, nhưng không gây chấn động như cuộc tấn công vào tàu Wasp. Tất cả những gì quan trọng đối với Kraft bây giờ là mối liên quan giữa tàu Wasp với tàu O’Brien và Bắc Carolina. Mayer đã tìm thấy một bản phác thảo, và Cox tìm thấy một bức ảnh. Cả hai dường như xác nhận rằng Wasp đã ở phía tây nam của O’Brien và Bắc Carolina khi nó bị bắn trúng.

“Vâng, nếu điều đó đúng, thì nó đẩy mọi thứ đi xa hơn về phía nam”, Kraft nói.

Anh lại nhìn bản đồ. Có một khoảng trống, một khu vực chưa tìm kiếm ở phía tây nam, ít nhất 10 dặm theo tất cả phỏng đoán của các hoa tiêu về nơi Wasp đã chìm xuống. Ông gõ nhẹ ngón tay vào chỗ đó. “Tất cả các manh mối đẩy tôi đến đây”, ông nói.

Mayer im lặng. Ông ta nhận thấy bạn mình đã phát hiện ra một cái gì đó, và ông ta không muốn làm gián đoạn dòng suy nghĩ ấy. Giả thuyết mới khiến mọi thứ trở nên cực kỳ rối nhưng từng chút một Mayer bắt đầu đã gỡ từng nút thắt, kể từ khi thiết bị A.U.V. tìm thấy mảnh vỡ đầu tiên và Kraft đã tuyên bố chiến thắng trong giây phút đó : Câu lạc bộ Viễn thám đã phân tích sai các manh mối dưới đáy đại dương. Thật vậy, ngay cả trước khi Kraft gửi thiết bị dò tìm xuống một lần nữa để quét khu vực mới, lý trí vẫn cho ông niềm tin vào việc đó.

Thiết bị A.U.V. lại nổi lên, đó là vào khoảng 3 giờ 30 sáng ngày 14 tháng 1. Tôi đã xa nhà kể từ cuối tháng 12. Đã gần đến lúc tôi phải bắt chuyến bay về nhà. Chúng tôi vẫn còn hơn một ngày đi thuyền đến sân bay gần nhất. Có thể không có cơ hội nào khác cho thiết bị A.U.V. sau nhiệm vụ này.

Thông tin sóng sonar được đưa lên màn hình của phòng điều khiển trực tuyến. Tất cả chúng tôi đều nhìn vào màn hình. Ngay giữa khu vực đó, không thể nhầm lẫn, là một con tàu đồ chơi rơi trong hộp cát. “Nó đây rồi”, Kraft nói.

Một khoảng lặng kéo dài một lúc. Ai đó trong phòng đã khóc. Giây phút đó cảm thấy thật hỗn độn, xúc động. Mục đích của tàu Petrel là tìm kiếm xác tàu và thời điểm này là sự thành quả rõ ràng nhất của nhiệm vụ đó, nhưng không có sự vui mừng ngay lập tức. Một phần của sự lắng đọng đó là sóng âm thanh đang vẽ lên đường viền của con tàu, hiển thị cho sinh mệnh của 194 con người với những câu chuyện chúng ta đã được biết trong những ngày qua và tuần qua. Trong tâm trí tôi lúc đó, ít nhất, cũng có một sự hối hận thoáng qua, mỏng manh và bất ngờ, mà tôi không có thể giải thích một cách rõ ràng được : đó là sự đau đớn khi nhìn một thợ săn đứng trên một con nai bị bắn.

Cuối cùng, Kraft phá vỡ sự im lặng: “Trục vớt nó”, ông ra lệnh.

Vài giờ sau, thiết bị R.O.V. được thả từ tàu Petrel lặn xuống, ánh đèn rọi sáng vào ngay trên con tàu Wasp. Nó bị hai con cá mập đang theo chúng tôi kéo đi khoảng 300 mét. Thiết bị R.O.V. mất hơn một giờ để hạ xuống độ sâu 4.200 mét, vị trí chiếc tàu Wasp. Nó đã dành nửa ngày tiếp theo để kiểm tra xác tàu từ đầu này sang đầu kia, thỉnh thoảng phải di chuyển chậm do gián đoạn tầm nhìn bởi các sinh vật dưới đáy biển.

Vụ cháy và vụ nổ hiển nhiên đã làm tàu Wasp bị thương ở khắp mọi nơi. Tất cả các bộ phận trên boong đã bị mất tích. Có một vị trí phía trước của hòn đảo trung tâm của tàu cho thấy có vẻ như con tàu đã bị cắt như khúc gỗ. Cây cầu bị in dấu các đường lửa cháy. Ống khói đã bị cắt cụt. Tuy nhiên nước lạnh, sâu và vùng thiếu ánh sáng đã bảo tồn xác tàu rất tốt. Tôi thấy ấn tượng nhất là nó trông thật nhỏ bé so với một tàu sân bay đã chứa hơn 2.000 thủy thủ và hàng chục máy bay. Đã có quá nhiều sinh mệnh ẩn chứa bên trong gã khổng lồ rỉ sét đó.

Rải rác xung quanh xác tàu Wasp là xác máy bay: Dauntlesses, Wildcats và Avengers, trong nhiều trạng thái bị phá hủy khác nhau. Ngay cả trước khi chiếc Wasp bị chìm, theo báo cáo của đội trưởng, các máy bay trên cả sàn tàu và nhà chứa máy bay đã bị ném lên không trung bởi các vụ nổ và bị hư hỏng nặng. Một chuyến đi đến đáy đại dương đã không cải thiện tình trạng của chúng. Và sau đó là cảnh tượng rùng rợn của hàng chục chiếc mũ bảo hiểm nằm dưới lớp phù sa.

Vào thời điểm chúng tôi trở lại Honiara những ngày sau đó, các đồng nghiệp của Cox, trong Hải quân đã được thông báo chính thức về phát hiện về tàu Wasp, và vị trí của nó được ghi nhận. Nếu không, nó đã bị bỏ lại một mình. Những người đàn ông trên tàu bắt đầu liên lạc với gia đình. Tôi đã gọi cho gia đình của Trung tá Shea.

Jack Shea kết hôn với một người phụ nữ tên là Claudette, sinh được 3 người con là John, Laura and Christine. Trong khoảng một tuần, tôi đã nói chuyện với cả bốn người thân trong gia đình ngay của Jack Shea, để nói với họ về con tàu Wasp. Đó là việc truyền đạt thông tin theo cách rất lạ lẫm. Phát hiện này không làm thay đổi sự thật về ông của họ, và có gì đó đã thay đổi rồi. Tất cả đều vui mừng khi đoàn thám hiểm đã dành thời gian và nỗ lực để xác định vị trí con tàu. Laura, một nhân viên xã hội, đã phản ứng theo kiểu “hết sức xúc động”; John, một kỹ sư mạng, rất vui khi có thông tin mới để củng cố sự hiểu biết của anh ấy về cuộc chiến đấu của ông mình; Claudette nói với tôi rằng chồng của cô ấy sẽ bị “sốc, thật đáng kinh ngạc – và dĩ nhiên là buồn” khi sống lại những ký ức tuổi thơ của anh ấy. Vị trí chính xác của tàu Wasp, Claudette nói với tôi rằng, đó là một mảnh ghép mà Jack đã luôn hy vọng sẽ tìm ra được.

Khi tôi nói chuyện với Christine, cháu gái út của Trung tá Shea – một giáo viên trong một trường công lập – cô ấy nói với tôi rằng cô ấy cảm thấy hối tiếc, vì cô ấy biết tin tức đó có ý nghĩa như thế nào với cha cô ấy. Nhưng cô cũng rất xúc động, một phần bởi vì điều đó có nghĩa là một thế hệ người trẻ sẽ có cơ hội đọc lá thư của ông nội cô. Với cô, điều đó mang giá trị to lớn đối với nước Mỹ cực đoan.

“Điều đó không mang ý nghĩa về tiền bạc mà nó sẽ mang lại động lực sống mạnh mẽ”, Christine nói.

Christine cũng kể tôi nghe về tấm gương của Trung tá Shea có ý nghĩa như thế nào với cha cô, người mà cô mô tả là một người đàn ông khiêm nhường, không khao khát ánh hào quang nhờ ảnh hưởng từ hiệu ứng của bức thư. Cô ấy nói rằng Jack Shea đã sống trong lý tưởng mà cha anh ấy đã đưa ra trong những dòng thư đó. Nói chung, ông ấy đã có một cuộc sống tốt – mặc dù cũng thường bị xúc động trước bi kịch. Theo một cách kỳ lạ nào đó, việc phát hiện ra tàu Wasp đã khép lại tập phim phức tạp này trong lịch sử của Shea. Cô nói rằng, cả gia đình đã tin rằng nơi an nghỉ cuối cùng của tàu Wasp sẽ không thể tìm ra. Bây giờ, và những năm sau nữa, điều bí ẩn đã được mở ra.

Christine nói rằng : “Để không bị thất lạc mãi mãi, điều đó có vẻ quan trọng.”

Vài ngày sau khi tôi nói chuyện với gia đình về việc phát hiện ra tàu Wasp, góa phụ của Jack Shea, bà Claudette, đã viết cho tôi một bức thư điện tử. Bà nói với tôi rằng tin tức đã thôi thúc bà tìm hiểu lại lịch sử gia đình Shea. Bà thấy buộc mình đi tìm lại các bài báo của chồng mình. Ở đó, bà phát hiện ra một ghi chú được viết bởi John Shea khi còn là một cậu bé. Bút tích không bị xóa bỏ, nhưng những dòng chữ nguệch ngoạc cho rằng nó sẽ được viết vào những năm đầu của thế kỷ 20, khi Teddy Roosevelt làm chủ tịch, chưa ai lái chiếc Ford Model T và một tàu sân bay là một công cụ chiến tranh xa xôi, viễn tưởng.

“Khi tôi là trưởng thành, tôi sẽ trở thành một người lính bởi vì tôi thích chiến đấu cho đất nước của mình. Tôi thích diễu hành, cưỡi trên lưng ngựa và đi trên tàu.”

Ed Caesar là nhà văn sống ở Manchester, Anh, là tác giả của cuốn “Marathon 2 giờ : Nhiệm vụ bất khả thi”